Đè cương ôn tập giáo lý Sống Đạo - Vào Đời - TÌM CHÚA

Trang học hỏi, suy tư, chia sẻ Huấn Quyền của Giáo Hội

Friday, August 27, 2021

Đè cương ôn tập giáo lý Sống Đạo - Vào Đời

 

 

L.m. Gioan B. Trương Đình Hà

 

 

 

 

GIÁO LÝ

 

CHO THANH THIẾU NIÊN

 

Dành cho các thanh thiếu niên thuộc lớp

 giáo lý Sống Đạo và Vào đời ôn tập

Cho những ai chưa qua hai lớp giáo lý nói trên

Cho những người muốn tìm hiểu đức tin công giáo 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2021

 

 

 

 

 

 

 

 

Biên soạn theo sách

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo

bản rút gọn của HĐGMVN 2013

 

Tham khảo

- Thủ bản giáo lý: Sống Đạo, chương trình giáo lý Hồng Ân, Giáo phận Xuân Lộc 2015.

- ĐGM Simon Hòa Hiền ,Thánh giáo yếu lý, Tân Định Sài Gòn 1957.

- ĐTGM Nguyễn Văn Bình, Giáo Lý Tân Định, Tân Định Sài Gòn 1967.

 

 

 


 

 

 

 




PHẦN I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

 

Bài 1:  THIÊN  CHÚA  CHO  CHÚNG  TA  NHẬN  BIẾT  NGÀI

 

1. H. Con người được Thiên Chúa dựng nên để làm gì?

T. Con người được Thiên Chúa dựng nên để sống hạnh phúc với Ngài. [1]

2. H. Thiên Chúa đã làm gì để con người được sống hạnh phúc với Ngài?

T. Thiên Chúa đã khắc ghi vào tâm hồn con người niềm khao khát Thiên Chúa và ban cho họ khả năng nhận biết, yêu mến và hiệp thông với Ngài. [2]

3. H. Con người có thể nhận biết Thiên Chúa bằng cách nào?

T. Con người có thể nhận biết Thiên Chúa bằng những cách này:

- Một là nhìn xem vẻ đẹp kỳ diệu và trật tự lạ lùng trong vũ trụ, mà nhận ra Đấng dựng nên trời đất muôn vật;

- Hai là nhờ tiếng lương tâm, sự tự do và khát vọng hạnh phúc đời đời, mà nhận ra Đấng là nguồn mọi điều thiện hảo. [3]

4. H. Con người có thể nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa không?

T. Với khả năng tự nhiên, con người không thể nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa, mà phải nhờ vào sự mạc khải của Ngài. [4]

Bài 2: MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử”. (Dt 1,1-2)

5. H. Mạc khải là gì?

T. Mạc khải là việc Thiên Chúa tỏ cho con người biết Ngài và ý định yêu thương của Ngài đối với con người. [6]

6. H. Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta bằng cách nào?
T. Thiên Chúa dùng lời nói và hành động, mà tỏ mình cho chúng ta qua từng giai đoạn lịch sử cứu độ. [6]

7. H. Thiên Chúa đã mạc khải qua những giai đoạn nào?
T. Thiên Chúa đã mạc khải qua tổ tông loài người, các Tổ phụ, các Ngôn sứ và sau hết, Ngài đã mạc khải trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô . [7.8.9]

8. H. Vì sao Đức Giêsu Kitô  là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa?

T. Vì Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người; chính Ngài là Lời duy nhất và hoàn hảo của Chúa Cha. [9]

 

BÀI 3: LƯU  TRUYỀN  MẠC  KHẢI

“Lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa”. (2 Pr 1,21).

 

9. H. Mạc khải của Thiên Chúa được lưu truyền bằng cách nào?

T. Mạc khải của Thiên Chúa được lưu truyền bởi Truyền thống Tông đồ. [11]

10 H. Truyền thống Tông đồ là gì?

T. Truyền thống Tông đồ là việc các Tông đồ chuyển đạt mọi điều các ngài đã lãnh nhận từ Đức Kitô và học hỏi từ Thánh Thần, cho những người kế nhiệm các ngài là các Giám mục, và qua các Giám mục, cho mọi thế hệ. [12]

11. H. Truyền thống Tông đồ được thực hiện bằng cách nào?
T. Truyền thống Tông đồ được thực hiện bằng hai cách:
  - Một là chuyển đạt sống động Lời Chúa gọi là Thánh Truyền;
  - Hai là ghi lại Lời Chúa bằng chữ viết gọi là Thánh Kinh.
  Cả hai làm thành kho tàng đức tin của Hội Thánh. [13.14]

BÀI 4 : THÁNH KINH

“Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính”. (2 Tm 3,16).

12. H. Thánh Kinh là gì?

T. Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa nói với chúng ta, được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. [18]

13. H. Ai là tác giả Thánh Kinh ? (GLCG.14)

T. Thiên Chúa là tác giả Kinh Thánh và Người đã linh hứng cho một số người để họ viết những gì Người muốn mặc khải.

 14 H. Thánh Kinh được viết ra như thế nào?

T. Chúa Thánh Thần đã soi dẫn một số người, để họ viết ra những điều Thiên Chúa muốn nói với chúng ta về những chân lý cần thiết cho ơn cứu độ. [18]

15. H. Thánh Kinh có mấy phần?

T. Thánh Kinh có hai phần: một là Cựu ước, gồm 46 cuốn; hai là Tân ước, gồm 27 cuốn. [20.23]

16. H. Cựu ước là gì?

T. Cựu ước là những sách nói về lời hứa cứu chuộc của Thiên Chúa và việc chuẩn bị cho Chúa Cứu Thế ra đời. [21]

17. H. Tân ước là gì?

T. Tân ước là những sách nói về cuộc đời và lời giảng dạy của Chúa Giêsu, cũng như đời sống đức tin của Hội Thánh thuở ban đầu, trong đó quan trọng nhất là bốn sách Tin Mừng. [22]

18. H. Thánh Kinh cần thiết cho đời sống Kitô  hữu thế nào?
T. Thánh Kinh củng cố đức tin và nuôi dưỡng đời sống Kitô  hữu, vì thế, chúng ta phải siêng năng đọc, học hỏi, suy gẫm và đem ra thực hành. [24]

Bài  5 : CON  NGƯỜI  ĐÁP  LẠI  LỜI  THIÊN  CHÚA

“Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”. (Dt 11,1)

 

18. H. Con người đáp lại Lời Thiên Chúa bằng cách nào?

T. Con người đáp lại Lời Thiên Chúa bằng sự vâng phục đức tin, nghĩa là tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lý của Ngài. [25]

19. H. Đức tin có những đặc điểm chính yếu nào?

T. Đức tin vừa là ơn Thiên Chúa ban, vừa là sự đón nhận có ý thức và tự do của con người. [28]

20. H. Đức tin có cần thiết để được cứu độ không?

T. Đức tin rất cần thiết, vì chính Chúa Giêsu đã dạy: “Ai tin và chịu phép Rửa thì sẽ được cứu độ” (Mc 16,16). [28]

21. H. Những điều phải tin được tóm lược trong kinh nào ?

T. Những điều phải tin được tóm lược trong kinh Tin Kính (28)

 

BÀI  6 : Thiên Chúa Duy NhẤt TRONG BA NGÔI

“Nghe đây, hỡi Is-ra-el : Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em”  (Đnl 6, 4-5)

22. H. Khi tuyên xưng Thiên Chúa duy nhất, ta phải hiểu thế nào ? (29)

T. Ta phải hiểu : chỉ có một Thiên Chúa và ngoài Người ra, không có Thiên Chúa nào khác, và ta phải thờ phượng một mình Người mà thôi (x. Mt 4,10).

23. H. Thiên Chúa có tỏ cho ta biết tên của Người không ? (30)

T. Thiên Chúa đã tỏ cho ta biết tên của Người là Đấng Hiện Hữu.

24. H.  Đấng Hiện Hữu có nghĩa là gì ? (31)

T. Nghĩa là Thiên Chúa tự mình mà có, không do ai tạo thành và không có kết thúc. Người luôn có mặt bên ta, để chăm sóc và cứu giúp ta.

25. H. Thiên Chúa có tỏ mình cho ta biết thêm về Người nữa không ?  (32)

T. Thiên Chúa còn tỏ cho ta biết Người “giầu ơn nghĩa và trung tín” (Xh 34, 6). Người chính là Sự Thật và Tình yêu.

26. H. Mầu nhiệm trung tâm của Đức tin Ki-tô giáo là mầu nhiệm nào ?  (34)

T. Là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

27. H. Nhờ đâu ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi ?  (35)

T. Nhờ Chúa Giê-su mặc khải mà ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi (x. Mt 28,19)

28. H. Ta phải hiểu thế nào về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi ?  (36)

T. Ba Ngôi tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể duy nhất và một uy quyền ngang nhau, nên chỉ là một Thiên Chúa duy nhất mà thôi (Kinh Tiền tụng lễ Chúa Ba Ngôi).

29. H. Ba Ngôi hoạt động thế nào ? (37)

T. Ba Ngôi cùng hoạt động trong mọi công trình, nhưng mỗi Ngôi biểu lộ nét riêng biệt : Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hoá.

30. H. Thiên Chúa tỏ cho ta biết mầu nhiệm Ba Ngôi để làm gì ?  (38)

T. Để mời gọi ta thông phần vào chính sự sống của chính Ba Ngôi, và góp phần làm cho gia đình ta cũng như dân tộc và Hội thánh, thành cộng đoàn hiệp thông theo khuôn mẫu Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

Bài  7 :  CHÚA CHA,  ĐẤNG SÁNG TẠO VÀ QUAN PHÒNG

“Mọi âu lo, trút cả cho Người vì Người chăm sóc anh em” (1Pr 5,7)

31. H. Trong Kinh Tin Kính, ta tuyên xưng điều gì về Thiên Chúa sáng tạo ? (GLCG.39)

T. Ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời và đất, muôn vật hữu hình và vô hình.

32. H. Thiên Chúa có chăm sóc những loài Chúa đã sáng tạo không ? (GLCG.44)

T. Thiên Chúa vẫn tiếp tục chăm sóc và hướng dẫn mọi loài thụ tạo, để vũ trụ tiến dần đến mức hoàn hảo như Chúa muốn. Đó là sự quan phòng.

33. H. Ta phải hiểu thế nào về sự dữ ở trần gian này ? (GLCG.45) 

T. Niềm tin Ki-tô giáo giúp ta hiểu rằng :

- Một là Thiên Chúa không tạo nên sự dữ. Người sáng tạo vạn vật tốt lành nhưng chưa hoàn hảo.

- Hai là con người đã lạm dụng tự do Thiên Chúa ban, nên đã gây đau khổ.

- Ba là Thiên Chúa có thể rút ra sự tốt lành từ chính điều dữ, theo những đường lối mà ta chỉ biết được cách đầy đủ trong cuộc sống đời sau.

Bài  8:  CON NGƯỜI - TỘI TỔ TÔNG

34. H. Vì ý nào Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ ? (GLCG.50)

T. Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ cùng một phẩm gía để họ bổ túc cho nhau, và trong hôn nhân họ được  cộng tác với Người để lưu truyền sự sống.

35. H. Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người những đặc ân nào ?  (GLCG.51)

T. Thiên Chúa đã ban cho tổ tông loài người được sống trong ơn nghĩa với Thiên Chúa, không phải đau khổ và không phải chết. Nhưng hạnh phúc ấy đã mất khi Tổ tông phạm tội.

36. H. Tổ tông loài người đã phạm tội gì ?  (GLCG.54)

T. Tổ tông loài người đã lạm dụng tự do mà không vâng phục Thiên Chúa, từ chối tình yêu và sống đối nghịch với Người. Đó là tội tổ tông.

37. H. Sau khi tổ tông phạm tội, Thiên Chúa có bỏ loài người không ?  (GLCG.57)

T. Không. Thiên Chúa chẳng bỏ mà lại hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu chuộc loài người.

 

Bài 9 : CHÚA GIÊ-SU KITÔ  -  ĐẤNG CỨU THẾ

“Đức Giê-su lại hỏi :“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” Ông Si-mon Phê-rô thưa :“Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,15-16)

38. H. Trong Kinh Tin Kính, ta tuyên xưng điều gì về Chúa Giê-su Ki-tô ? (GLCG.58)

T. Ta tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Con Một Thiên Chúa đã xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại.

39. H. Vì sao Con Thiên Chúa xuống thế làm người được gọi tên là Giê-su ? (GLCG.59)

T. Vì tên gọi ấy nói lên sứ mệnh của Người là “Thiên Chúa Cứu Độ” (x. Mt 1,21).

40. H. Vì sao Chúa Giê-su còn được gọi là Đấng Ki-tô ? (GLCG.60)

T. Chúa Giê-su được gọi là Đấng Ki-tô vì Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người, để Người chu toàn sứ mệnh Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế (x. Cv 10,38).

41. H. Vì sao ta tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa ?  (GLCG.61)

T. Vì Chúa Giê-su Ki-tô là Ngôi Con được Chúa Cha sinh ra từ đời đời. Người là Con Một của Chúa Cha và chính Người cũng là Thiên Chúa.

42. H. Vì sao ta tuyên xưng Chúa Giê-su Ki-tô là Chúa ?  (GLCG.62)

T. Ta tuyên xưng Chúa Ki-tô là Chúa vì ta nhận uy quyền tối cao và thần linh của Người.

 

Bài 10 :  CUỘC SỐNG TRẦN THẾ CỦA CHÚA GIÊ-SU

“Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin mừng Nước Trời, và chữa hết các bệnh hoạn, tật nguyền của dân” (Mt 4,23)

43. H. Cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu đã diễn ra thế nào?
T. Chúa Giêsu đã sinh ra tại Bêlem, sống ẩn dật tại Nadarét nước Do Thái. Khoảng ba mươi tuổi, Ngài đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Sau cùng Ngài chịu chết trên thập giá thời Phongxiô Philatô, rồi sống lại và lên trời. [GLHTCG 525. 541. 668]

44. H. Tại sao Chúa Giêsu chịu phép Rửa của ông Gioan Tẩy Giả?

T. Chúa Giêsu chịu phép Rửa của ông Gioan Tẩy Giả, để báo trước cái chết của Ngài và Bí tích Rửa Tội của chúng ta. [105]

45. H. Khi rao giảng, Chúa Giê-su chủ ý loan báo điều gì ? (GLCG.71)

T. Khi rao giảng, Chúa Giê-su loan báo : “Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

46. H. Khi đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giê-su có chọn ai cộng tác với Người không? (GLCG.74)

T. Chúa Giê-su đã chọn mười hai người gọi là Tông đồ để chia sẻ sứ mệnh của Người và trao cho Phê-rô quyền cai quản Hội thánh.

47.   H. Các Tông đồ đó là những vị nào ? (GLCG.75)

T. Đó là Si-mon mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến An-rê, anh của ông, sau đó là Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-lip-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, Mat-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-mon nhiệt thành, Giu-đa con ông Gia-cô-bê và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội (x. Lc 6,14-16).

Bài 12 :  CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊ-SU

“Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2,24)

48. H. Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu quan trọng thế nào?
T. Mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu là trọng tâm của đức tin Kitô giáo. Mầu nhiệm này bao gồm cuộc khổ nạn, cái chết, sự phục sinh và tôn vinh của Ngài. [112]

49. H. Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả thế nào trong Bữa Tiệc Ly?
T. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu vừa thiết lập Bí tích Thánh Thể như việc “tưởng nhớ” đến hy tế của Ngài (1 Cr 11,25), vừa thiết lập chức tư tế của Giao ước mới. [120] 

50. H. Trong cơn hấp hối tại vườn cây dầu, Chúa Giêsu có thái độ nào?

T. Trong cơn hấp hối, mặc dù Chúa Giêsu khiếp sợ cái chết, nhưng Ngài vẫn một lòng vâng phục thánh ý Chúa Cha để cứu độ chúng ta (x. Pl 2,8). [121] 

51. H. Chúa Giê-su đã chịu chết như thế nào ?   (GLCG.86)

T. Chúa Giê-su đã chịu đóng đinh và chết trên thập giá. Xác Người được mai táng trong mồ, còn linh hồn Người thì xuống ngục tổ tông.

52. H. Hy tế của Chúa Giêsu trên Thập giá đem lại cho chúng ta điều gì?

T. Hy tế của Chúa Giêsu trên Thập giá xóa bỏ tội trần gian (x. Ga 1,29) và giao hòa toàn thể nhân loại với Chúa Cha. [122]

Bài 13 :    CHÚA GIÊ-SU SỐNG LẠI VÀ LÊN TRỜI

53. H. Cuộc phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta?
T. Cuộc phục sinh của Chúa Giêsu là chân lý cao cả nhất của đức tin và là phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt qua. [126]

54. H. Có những “dấu chỉ” nào cho biết Chúa Giêsu đã phục sinh?
T. Có những dấu chỉ này:
  - Một là ngôi mộ trống, không còn xác Chúa;
  - Hai là Ngài đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ. [127] 

55. H. Vì sao sự phục sinh của Chúa Giêsu vừa là biến cố lịch sử vừa là biến cố siêu việt?
T. Sự phục sinh của Chúa Giêsu là biến cố lịch sử, vì được xác định bởi các dấu chỉ và lời chứng; là biến cố siêu việt, vì giác quan không thể kiểm nhận được việc Ngài bước vào vinh quang của Thiên Chúa. [128]

56. H. Sau khi phục sinh, thân xác của Chúa Giêsu thế nào?
T. Sau khi phục sinh, thân xác của Chúa Giêsu cũng chính là thân xác đã chịu đóng đinh, nhưng được tham dự vào đời sống thần linh với những đặc tính của một thân xác vinh hiển. [129]

57. H. Việc sống lại của Chúa Giê-su chứng thực điều gì ?  (GLCG.92)

T. Việc Chúa Giê-su sống lại chứng thực điều này :

- Một  là  Chúa  Giê-su  chính  là  Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật.

- Hai là những lời hứa trong Kinh Thánh nay đã được thực hiện.

- Ba là mọi điều Chúa Giê-su đã nói và đã làm đều chân thật.

58. H. Sau khi sống lại, Chúa Giê-su làm gì ? (GLCG.94)

T. Sau khi sống lại, Chúa Giê-su còn hiện ra dạy dỗ, an ủi các môn đệ trong 40 ngày rồi Người lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha.

59. H. Chúa Giê-su lên trời ngự bên hữu Chúa Cha nghĩa là gì ? (GLCG.95)

T. Có những ý nghĩa này :

- Một là Người không còn hiện diện hữu hình ở trần gian.

- Hai là Người được Chúa Cha tôn vinh.

- Ba là Người dẫn đường chúng ta vào Nước vinh hiển của Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho ta.

60. H. Việc Chúa Giêsu lại đến trong vinh quang có ý nghĩa gì?
T. Đó là sự chiến thắng tối hậu và là cuộc phán xét cuối cùng của Ngài đối với kẻ sống và kẻ chết. [134]

Bài 14 :  CHÚA THÁNH THẦN

“Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy” (Ga 15,26)

 

61. H. Chúa Thánh Thần là Đấng nào ? (GLCG.101)

T. Chúa Thánh Thần là Ngôi thứ Ba, bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Người là Thiên Chúa thật, cùng một bản tính và một quyền năng như hai Ngôi cực trọng ấy.

62. H. Chúa Thánh Thần còn được gọi bằng những danh xưng nào ?  (GLCG.102)

T. Người còn được gọi là “Đấng ban Sự Sống”, ‘’Đấng Bào Chữa”, “Đấng An Ủi”, và “Thần Chân Lý”.

63. H. Kinh Thánh thường dùng những hình ảnh nào để chỉ Chúa Thánh Thần ? (GLCG.103)

T. Kinh Thánh thường dùng các hình ảnh này : nước, lửa, việc xức dầu, áng mây,  ánh sáng, ấn tín, bàn tay, ngón tay và chim bồ câu.

64. H. Có bao nhiêu hoa trái của Chúa Thánh Thần?

T. Theo truyền thống của Hội Thánh, có mười hai hoa trái của Chúa Thánh Thần, là bác ái, hoan lạc và bình an; kiên nhẫn, quảng đại và nhân từ; từ tâm, khoan dung và trung tín; khiêm nhu, tiết độ và khiết tịnh (x.Gl 5,22-23)

65. H. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh thế nào?
T. Chúa Thánh Thần xây dựng, ban sức sống và thánh hóa Hội Thánh. [145]
66. H. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào nơi các Kitô hữu?
T. Chúa Thánh Thần làm cho các Kitô hữu sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa, dạy họ cầu nguyện và giúp họ sống cho người khác. [146]

 

Bài 15 :  HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

  “Chúng tôi là cộng sự viên của Thiên Chúa. Anh em là cánh đồng của Thiên Chúa, là ngôi nhà Thiên Chúa xây lên” (1 Cr 3,9)

67. H. Hội Thánh là gì?

T. Hội Thánh là dân được Thiên Chúa kêu gọi và quy tụ, làm thành cộng đoàn gồm những người nhờ đức tin và Bí tích Rửa tội, trở nên con cái của Thiên Chúa, chi thể của Đức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần. [147]

68. H. Hội thánh khởi đầu và kết thúc như thế nào ? 

T. Hội thánh được Chúa Cha cưu mang từ đời đời và chuẩn bị trong thời Cựu ước, được Chúa Giê-su Ki-tô khai sinh nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh của Người, rồi được Chúa Thánh Thần tỏ bày trong ngày lễ Ngũ Tuần và sẽ hoàn tất trong vinh quang trên trời. (GLCG.111)

69. H. Hội thánh Công giáo có những đặc tính nào ? 

T. Hội thánh Công giáo có bốn đặc tính này là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền. (GL.119)

70. H. Tại sao trong Hội thánh lại có tội nhân ? (GLCG.123)

T. Vì các thành phần của Hội thánh chưa đạt tới sự thánh thiện trọn vẹn. Họ được mời gọi tự thanh tẩy và phải luôn nỗ lực sám hối, canh tân.

72. H. Tín hữu công giáo gồm những ai?

T. Tín hữu công giáo gồm những người tin vào Đức Kitô, đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và hiệp thông với Đức Giáo Hoàng. [177]

73. H. Hội Thánh Công Giáo có liên hệ với các tôn giáo ngoài Kitô Giáo thế nào?
T. Hội Thánh Công Giáo nhìn nhận những điều tốt đẹp và chân thật trong các tôn giáo khác, đều xuất phát từ Thiên Chúa và có thể chuẩn bị cho việc đón nhận Tin Mừng, thúc đẩy sự hợp nhất nhân loại trong Hội Thánh của Đức Kitô. [170]

Bài 16: TỔ CHỨC HỘI THÁNH

74. H. Hội thánh Công giáo có những thành phần nào ? (GL.130)

T. Hội thánh Công giáo gồm có Giáo sĩ, Tu sĩ và Giáo dân.

75. H. Hàng Giáo sĩ gồm những ai ? (GLCG.131)

T. Hàng Giáo sĩ gồm có Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, các Linh mục và Phó tế.

76. H. Các Tu sĩ là ai ? (GLCG.136)

T. Là những Ki-tô hữu muốn bước theo Chúa Giê-su cách triệt để, nên tự nguyện khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm là: khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, theo những hình thức đã được Hội thánh phê chuẩn.

77. H. Giáo dân là ai ? (GLCG.138)

T. Giáo dân là các tín hữu không có chức thánh và không ở trong bậc tu trì. Nhờ phép Rửa tội họ được dự phần theo cách của họ vào chức Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Chúa Ki-tô.

Bài 18:  LỊCH  SỬ  HỘI  THÁNH  TẠI  VIỆT  NAM

78. H. Tin Mừng đã đến Việt Nam từ khi nào ?   (GLCG.140)

T. Theo Khâm Định Việt Sử, vào năm 1533 (thế kỷ 16), đời vua Lê Trang Tôn, có một thừa sai Tây phương tên là I-nê-khu đã theo đường biển vào truyền đạo tại hai làng Ninh Cường và Trà Lũ, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay.

79. H. Để rao giảng Tin Mừng cho người Việt Nam, các vị thừa sai đầu tiên đã làm gì?

T. Để rao giảng Tin Mừng cho người Việt Nam, các vị thừa sai đầu tiên đã hòa nhập vào đời sống xã hội và văn hóa Việt Nam, đặc biệt sáng tạo và hoàn thành chữ Quốc ngữ với sự cộng tác của một số người Việt trong Hội Thầy Giảng.

80. H. Chứng nhân đức tin đầu tiên người Việt Nam là ai ?  (GLCG.144)

T. Có thầy Giảng Anrê Phú Yên bị bắt tại nhà Linh mục Đắc Lộ và bị chém đầu năm 1644. Được Hội Thánh tuyên phong Chân Phước và chứng nhận là vị Tử Đạo Tiên Khởi của Giáo Hội Việt Nam. (theo án phong Chân Phước Của Tòa Thánh)

81. H. Hội thánh Việt Nam bắt đầu có giáo phận từ khi nào ?   (GLCG.149)

T. Vào ngày 9/9/1659, Tòa Thánh đã thiết lập hai Giáo phận đầu tiên trên đất Việt nam và đặt hai Giám quản Tông Tòa : miền Nam (Đàng Trong) với Đức Giám Mục Lam-be đờ la mốt và miền Bắc (Đàng ngoài) với Đức Giám Mục Phan-xi-cô Pa-lu.

82. H. Hàng Giáo phẩm Việt Nam được thiết lập khi nào?
T. Hàng Giáo phẩm Việt Nam được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thiết lập ngày 24 tháng 11 năm 1960, với 3 giáo tỉnh là Hà Nội, Huế và Sài-Gòn.

 

PHẦN II

CỬ HÀNH MẦU NHIỆM KI-TÔ GIÁO

Bài 20 : PHỤNG VỤ

 “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9)

83. H. Phụng vụ là gì ?  (GLCG.184)

T. Phụng vụ là việc tôn thờ chính thức của toàn thể Hội Thánh để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi và thánh hóa con người.

84. H. Vì sao Chúa Cha là nguồn mạch của phụng vụ?
T. Vì Chúa Cha ban muôn vàn phúc lành cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô và ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta. [221]

85. H. Đức Kitô thực hiện công trình nào trong phụng vụ?
T. Trong phụng vụ, Đức Kitô biểu lộ và hoàn thành mầu nhiệm Vượt qua, để trao ban ân sủng của Ngài. [222]

86. H. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong phụng vụ?
T. Trong phụng vụ, Chúa Thánh Thần chuẩn bị cộng đoàn gặp gỡ Đức Kitô, nhắc nhớ và bày tỏ mầu nhiệm Đức Kitô, làm cho mầu nhiệm Đức Kitô hiện diện trong hiện tại và xây dựng tình hiệp thông trong Hội Thánh. [223]

87. H. Năm Phụng vụ là gì?
T. Năm Phụng vụ là thời gian Hội Thánh cử hành các mầu nhiệm Đức Kitô, để giúp chúng ta sống những mầu nhiệm ấy, hầu chuẩn bị đón Ngài lại đến trong vinh quang. [242; PV 103]

88. H. Năm Phụng vụ được tổ chức thế nào?
T. Năm Phụng vụ được tổ chức thành các mùa là mùa Vọng, mùa Giáng sinh, mùa Chay, mùa Phục sinh và mùa Thường niên. [x. PV 102; GLHTCG 1168, 1171]

89. H. Ngày Chúa nhật quan trọng thế nào trong cử hành Phụng vụ ? (GLCG.198)

T. Ngày Chúa nhật rất quan trọng vì là “Ngày của Chúa”, ngày Chúa đã Phục sinh. Vì thế, ngày Chúa nhật là nền tảng và trung tâm của cả năm Phụng vụ.

90.  H. Phụng vụ Các Giờ Kinh là gì?

T. Phụng vụ Các Giờ Kinh là lời cầu nguyện của Đức Kitô cùng với Hội Thánh, để giúp các tín hữu thánh hóa thời gian trong ngày. [243]

91. H. Cử hành phụng vụ gồm những yếu tố nào?

T. Cử hành phụng vụ gồm hai yếu tố này:

- Một là các dấu chỉ và biểu tượng, để diễn tả và thực hiện hành động cứu độ của Đức Kitô;

- Hai là lời nói và hành động, nhờ đó con người gặp gỡ và đối thoại với Thiên Chúa. [236. 237. 238]

BÀI 21:  BÍ TÍCH

86.  H. Bí tích là gì?

T. Bí tích là dấu chỉ bên ngoài Chúa Giêsu đã lập và truyền lại cho hội thánh cử hành, để diễn tả và thông ban cho chúng ta ân sủng bên trong là sự sống thần linh. [224]

87. H. Có mấy bí tích?
T. Có 7 bí tích:
  - Một là Bí tích Rửa Tội;
  - Hai là Bí tích Thêm Sức;
  - Ba là Bí tích Thánh Thể;
  - Bốn là Bí tích Thống Hối;
  - Năm là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân;
  - Sáu là Bí tích Truyền Chức Thánh;
  - Bảy là Bí tích Hôn Phối. [224]

88. H. Ấn tín bí tích là gì?
T. Ấn tín bí tích là dấu ấn thiêng liêng, Thiên Chúa in vào lòng những người lãnh Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh, như lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Ngài. Vì ấn tín không thể xóa được, nên các bí tích này chỉ được lãnh một lần mà thôi. [227]

89. H.  Vì sao gọi là bí tích đức tin?
T. Vì khi lãnh nhận bí tích, chúng ta phải có đức tin, đồng thời nhờ các bí tích, đức tin của chúng ta thêm mạnh mẽ vững vàng. [228]

90. H. Ai ban ân sủng trong các bí tích?
T. Chính Đức Kitô hoạt động và thông ban ân sủng trong các bí tích, nhưng ân sủng này có mang lại lợi ích hay không thì còn tùy thuộc vào sự chuẩn bị nội tâm của người lãnh nhận. [229]

Bài 21 :    BÍ TÍCH RỬA TỘI

“Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”  (Mc 16,16)

91 H. Bí tích Rửa tội là gì ?  (GLCG.204)

T. Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập để tái sinh ta trong đời sống mới bởi nước và Chúa Thánh Thần.

92.   H. Bí tích Rửa tội có cần thiết không ?  (GLCG.206)

T. Bí tích Rửa tội rất cần thiết, vì Chúa Giê-su đã nói :"Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần” (Ga 3, 5).

93. H. Những người không lãnh nhận Bí tích Rửa tội có thể được cứu độ không ? (GLCG.207)

T. Những người không lãnh nhận Bí tích Rửa tội có thể được cứu độ trong ba trường hợp này :

- Một là chịu chết vì đức tin,

- Hai là có lòng ước ao nhưng chưa có điều kiện lãnh nhận Bí tích Rửa tội,

- Ba là chưa được biết Tin Mừng và Hội thánh nhưng đã theo tiếng lương tâm mà sống ngay lành.

94. H. Những ai được quyền cử hành Bí tích Rửa tội ? (208)

T. Thông thường là Giám mục, Linh mục và Phó tế ; nhưng khi khẩn cấp thì bất cứ ai cũng có thể cử hành, miễn là làm theo ý muốn và cách thức của Hội thánh.

95. H. Nghi thức chính yếu của Bí tích Rửa tội là nghi thức nào ?  (GLCG.209)

T. Là dìm ứng viên vào nước hoặc đổ nước  trên đầu người đó ; đồng thời đọc lời này: “(Tên thánh), tôi rửa (ÔBACE) nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”.

96. H. Vì sao Hội Thánh rửa tội cho trẻ em?

T. Hội Thánh rửa tội cho trẻ em, vì các em đã sinh ra trong tội tổ tông, nên cần được giải thoát để làm con Thiên Chúa. [258]

97. H. Bí tích Rửa Tội  ban cho chúng ta những ơn nào?
T. Bí tích Rửa Tội  ban cho chúng ta những ơn này:
  - Một là được tha tội tổ tông và các tội riêng đã phạm;
  - Hai là được làm con cái Thiên Chúa;
  - Ba là được tháp nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh;
  - Bốn là được ghi vào linh hồn dấu ấn thiêng liêng không bao giờ xóa được. [263]

98. H. Người đến tuổi khôn muốn lãnh Bí tích Rửa Tội phải làm gì?
T. Phải có lòng tin và ước ao, phải học biết giáo lý và tham dự những nghi thức chuẩn bị gia nhập Kitô giáo. [259]

Bài 22 :     BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói :“Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19

99. H. Bí tích Thánh Thể là gì ?  (GLCG.221)

T. Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập để tiếp tục lễ hy sinh trên thánh giá và để ban Mình Máu Người dưới hình bánh rượu làm của nuôi linh hồn ta.

100. Chúa Giê-su đã lập Bí tích Thánh Thể khi nào ? (GLCG.222)

T. Chúa Giê-su đã lập Bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc sau hết, trước khi Người đi chịu chết.

101. H. Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thánh Thể thế nào?

T. Trong Bữa ăn tối sau cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén rượu, cũng tạ ơn, trao cho các môn đệ mà nói: “Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì này là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Kinh nguyện Thánh Thể 2)

102. H. Bí tích Thánh Thể quan trọng thế nào ? (GLCG.226)

T. Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh cao của mọi sinh hoạt Hội thánh, vì Thánh Thể chứa đựng tất cả kho tàng thiêng liêng của Hội thánh, là chính Chúa Ki-tô, lễ Vượt qua của chúng ta (LM. 5).

103. H. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện thế nào?

T. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hiện diện thực sự và toàn vẹn dưới hình bánh rượu.

104. H. Thánh lễ là gì ?  (GLCG.229)

T. Thánh lễ là cuộc tưởng niệm lễ Vượt Qua của Chúa Ki-tô, là hiện tại hóa và tiến dâng lễ hy sinh độc nhất của Người lên Chúa Cha trong phụng vụ của Hội thánh.

105. H. Hội thánh dâng thánh lễ vì những ý nào ? (GLCG.230)

T. Hội thánh dâng thánh lễ vì những ý này :

- Một là để cảm tạ và ngợi khen Chúa Cha vì các ơn huệ Người ban cho loài người.

- Hai là để  tưởng  niệm  Hy  tế  của Chúa Ki-tô và Thân thể Người là Hội thánh.

- Ba là để đền  bù  tội  lỗi  của người sống, người chết, đồng thời xin Thiên Chúa ban cho ta những ơn lành hồn xác.

- Bốn là để các tín hữu được hiệp nhất với nhau trong Chúa Ki-tô và được kết hợp với phụng vụ trên trời.

Bài 23:  BÍ TÍCH ThỐng hỐi     

106. H. Bí tích Thống hối là gì ?  (GLCG.237)

T. Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập để tha các tội ta phạm từ khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội về sau, cùng giao hòa ta với Chúa và Hội thánh. Bí tích này còn được gọi là Giải tội hay Sám hối; Bí tích Xưng tội hay Thống hối.

107. H. Bí tích Thống Hối còn có những danh xưng nào?

T. Bí tích Thống Hối còn gọi là bí tích của sự hối cải, Bí tích Hòa giải, Bí tích Giao Hòa, Bí tích Xưng Tội, Bí tích ban ơn tha thứ. (GLHTCG 1423-1424)

108. H. Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thống Hối khi nào?

T. Chúa Giêsu đã lập Bí tích Thống Hối khi Ngài hiện ra với các tông đồ, vào chiều ngày Phục sinh và nói rằng: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần; anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì tội người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 22-23)

109. H. Bí tích Thống Hối có những hiệu quả nào?

T. Bí tích Thống Hối có những hiệu quả này:

- Một là tha tội để giao hòa chúng ta với Thiên Chúa và Hội Thánh

- Hai là tha hình phạt muôn đời do các tội trọng đã gây ra và tha một phần các hình phạt tạm

- Ba là ban sự bình an và gia tăng sức mạnh cho cuộc chiến đấu thiêng liêng của người Kitô hữu.

110. H. Những ai trong Hội thánh có quyền tha tội(GLCG.241)

T. Các Giám mục và những Linh mục được quyền giải tội đều có thể tha thứ các tội lỗi nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi.

111. H. Những ai cần lãnh nhận Bí tích Hòa Giải?  (GLCG.242)

T. Những người đã phạm tội trọng thì cần lãnh nhận Bí tích Hòa giải ; còn ai chỉ mắc tội nhẹ mà lãnh Bí tích này thì được nhiều ơn ích thiêng liêng.

112. H. Ngoài việc xưng tội, còn có những hình thức sám hối nào ? (249)

T. Ngoài việc xưng tội, Hội thánh còn nhấn mạnh đến ba hình thức sám hối này là : ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí.

113. H. Ân xá là gì ?  (GLCG.250)

T. Ân xá là ơn Hội thánh ban để tha hình phạt tạm ta đáng chịu về tội đã được Chúa tha. Người tín hữu lãnh nhận được ân xá khi chu toàn các điều kiện do Hội thánh qui định, và có thể nhường lại cho các đẳng linh hồn.

114. H. Có mấy thứ ân xá ? (GLCG.251)

T. Có hai thứ :

- Một là đại xá  :  tha tất cả các hình phạt.

- Hai là tiểu xá : tha một phần các hình phạt.

Bài 24:  BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN  

115.   H. Bí tích xức dầu bệnh nhân là gì ?  (GLCG.252)

T. Là bí tích Chúa Giê-su đã lập để ban ơn nâng đỡ bệnh nhân và người già yếu, về phần hồn và phần xác.

116. H. Ai có quyền ban Bí tích Xức dầu bệnh nhân ? (254)

T. Chỉ có Giám mục và Linh mục mới được ban Bí tích này.

117. H. Khi nào cần lãnh nhận Bí tích Xức dầu ?  (GLCG.256)

T. Khi người tín hữu lâm cảnh nguy tử vì bệnh nặng hay tuổi già thì nên mời linh mục tới ban Bí tích Xức Dầu cho họ.

118. H. Muốn lãnh nhận Bí tích Xức dầu thì phải có những điều kiện nào? (GLCG.258)

T. Phải có những điều kiện này :

- Một là đã đến tuổi khôn và ở trong tình trạng tỉnh trí (x. GL 1004),

- Hai là nếu không xưng các tội trọng được thì phải thật lòng thống hối ăn năn,

- Ba là không cố chấp sống trong tình trạng tội lỗi công khai (x. GL 1007).

Bài 25:   BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH

“Đức Giê-su lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3,13-14)

 

119. H. Bí tích Truyền chức thánh là gì ?  (GLCG.261)

T. Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập để thông ban chức linh mục cho những người được tuyển chọn, hầu phục vụ Dân Chúa bằng việc giảng dạy, tế tự và điều hành mục vụ.

120. H. Chúa Giêsu lập Bí tích Truyền Chức Thánh khi nào?
T. Chúa Giêsu lập Bí tích Truyền Chức Thánh trong Bữa Tiệc Ly, khi Ngài nói với các Tông đồ rằng: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). [GLHTCG 874. 875. 1341]

121. H. Có những cấp bậc nào trong Bí tích Truyền chức thánh ? (265)

T. Từ ban đầu, Bí tích Truyền chức thánh đã bao gồm ba cấp bậc là : Giám mục, Linh mục và Phó tế.

122. H. Người tín hữu có bổn phận nào đối với các vị chủ chăn của mình? (GLCG.269)

T. Người tín hữu có bổn phận cầu nguyện, tôn kính, vâng lời các vị chủ chăn trong các điều hợp lẽ đạo, tích cực cộng tác xây dựng Nước Chúa, đồng thời cũng phải giúp đỡ các ngài về tinh thần và vật chất nữa.

Bài 26: BÍ TÍCH HÔN PHỐI

123. H. Bí tích Hôn Phối là gì?

T. Là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để kết hợp hai người tín hữu một nam một nữ thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ân sủng để họ yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương Hội Thánh. [337]

124. H. Hôn nhân công giáo có mục đích nào?

T. Hôn nhân công giáo có các mục đích này:

- Một là trọn đời yêu thương nhau;

- Hai là sinh sản và dưỡng dục con cái. [338]

- Ba là Giúp nhau và gia đình mình nên thánh trong ơn gọi hôn nhân.

125. H. Muốn lãnh Bí tích Hôn Phối phải có những điều kiện nào?

T. Muốn lãnh Bí tích Hôn Phối phải có những điều kiện này:

- Một là đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội;

- Hai là không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên và luật Hội Thánh;

- Ba là hiểu biết về Bí tích Hôn Phối và đời sống gia đình;

- Bốn là có tự do kết hôn và công khai nói lên sự ưng thuận của mình theo nghi thức Hội Thánh. [GLHTCG.1625]

 

Bài 27:   ƠN KÊU GỌI      

“Chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, các thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô” (Ep 4,11-12)

 

126. H. Ơn kêu gọi là gì ? (GLCG.277)

T. Là lời Thiên Chúa mời gọi mỗi người vào một bậc sống nào đó ; nhưng thông thường thì ơn kêu gọi được hiểu là tiếng Chúa mời gọi một số người dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì hay trong hàng giáo sĩ.

127. H. Người dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì khấn giữ những gì? (GLCG.280)

T. Người dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì khấn giữ ba lời khuyên của Tin Mừng :

- Một là khó nghèo,

- Hai là khiết tịnh,

- Ba là vâng phục.

Bài  28:  PHỤ TÍCH

 “Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ quỉ”. (Mc 6, 7)

 

128. H. Phụ tích là gì ?  (GLCG.282)

T. Phụ tích là những dấu hiệu linh thiêng do Hội thánh lập ra để chuẩn bị người tín hữu lãnh nhận hiệu quả của các Bí tích và để thánh hóa những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.

129. H. Có mấy thứ Phụ tích ?  (GLCG.284)

T. Có ba thứ :

- Một là việc chúc lành cho người, đồ dùng hoặc nơi chốn,

- Hai là nghi thức thánh hiến người, đồ dùng hoặc nơi cử hành Phụng vụ,

- Ba là nghi thức trừ khử ma quỉ.

 

PHẦN III

ĐỜI SỐNG TRONG CHÚA KI-TÔ

Bài 29: CON  NGƯỜI   HÌNH  ẢNH  THIÊN  CHÚA     

130. H. Tại sao con người là hình ảnh Thiên Chúa ? (287)

T. Vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Người, ban cho có linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ và ý chí tự do. Cho nên ngay từ trong lòng mẹ, con người đã hướng về sự thiện đích thực và hạnh phúc muôn đời.

131. H. Con người có giữ được nguyên vẹn hình ảnh Thiên Chúa nơi mình không ? (288)                                                  

T. Không, tội lỗi đã làm tổn thương hình ảnh ấy nơi con người, khiến họ dễ hướng về điều xấu và dễ bị sai lầm.

132. H. Chúa Ki-tô đã làm gì để phục hồi hình ảnh Thiên Chúa nơi con người ? (GLCG.289)

T. Chúa Ki-tô đã chết và sống lại để phục hồi hình ảnh ấy cho những ai tin vào Người và sống như môn đệ Người.

133. H. Sống như môn đệ Chúa Ki-tô là thế nào ?  (GLCG.290)

T. Là thực hiện tinh thần bài giảng trên núi được gồm tóm trong các mối phúc thật.

134. H. Phẩm giá con người bắt nguồn từ đâu?

T. Phẩm giá bắt nguồn từ việc con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, được ban cho linh hồn thiêng liêng bất tử, có lý trí và ý chí tự do, nên con người luôn hướng về Thiên Chúa và được mời gọi hưởng phúc đời đời. [358]

135. H. Phẩm giá con người đòi buộc người Kitô hữu phải sống thế nào?

T. Phẩm giá con người đòi buộc người Kitô hữu phải ăn ở xứng đáng với Tin Mừng của Đức Kitô (x. Pl 1,27) nghĩa là sống đời sống mới. [GLHTCG 1700. 1706. 1709]

 Bài 30: HẠNH PHÚC ĐỜI ĐỜI

 “Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo – luật mang lại tự do –, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm”. (Gc 1,25).

135. H. Con người phải làm gì để đạt tới hạnh phúc đời đời?
T. Con người phải sống các Mối Phúc trong Tin Mừng và sống theo lương tâm ngay thẳng, nhờ ân sủng của Đức Kitô. [359]
 

136. H. Các Mối Phúc trong Tin Mừng là những Mối Phúc nào?
T. Các Mối Phúc trong Tin Mừng là những Mối Phúc này:
 - Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ;
 - Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp;
 - Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an;

- Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được thỏa lòng; - Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương;

- Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy

Thiên Chúa;

- Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa;

- Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,3-12).

137 H. Vì sao các Mối Phúc quan trọng đối với người Kitô hữu?
T. Vì các Mối Phúc phác họa dung mạo của Chúa Giêsu, diễn tả ơn gọi của người Kitô hữu, minh họa những hành động và thái độ của đời sống Kitô hữu và chỉ cho người Kitô hữu con đường đạt tới hạnh phúc đời đời. [360]

138. H. Hạnh phúc đời đời là gì?

T. Hạnh phúc đời đời là được chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong đời sống vĩnh cửu, được thông phần trọn vẹn bản tính của Ngài (x. 2 Pr 1,4), được tham dự vinh quang của Đức Kitô và được chung hưởng niềm vui của Ba Ngôi Thiên Chúa. [362]

Bài 31: TỰ DO CỦA CON NGƯỜI    

139. H. Tự do là gì ? (GLCG.293)

T. Tự do là khả năng chọn lựa, nhờ đó mà con người có thể cân nhắc, quyết định và chịu trách nhiệm về các hành vi của mình.

140. H. Con người có thể lạm dụng tự do của mình để làm điều xấu không ? (GLCG.296) 

T. Con người có thể lạm dụng tự do để chối bỏ tình yêu Thiên Chúa và khi đó trở thành nô lệ tội lỗi.

141. H. Vì sao con người phải chịu trách nhiệm về các việc mình làm?
T. Vì con người có tự do, nên phải chịu trách nhiệm về các việc mình làm, tùy theo mức độ hiểu biết và ước muốn của mình. [364]

1421. H. Có những trường hợp nào ta được giảm bớt trách nhiệm hoặc không bị qui trách nhiệm ? (GLCG.297)

T. Có ba trường hợp này :

- Một là do không biết,

- Hai là do bị ép buộc,

- Ba là do sợ hãi.

Bài  32:  TRÁCH NHIỆM LUÂN LÝ   

 “Các người chết được xét xử tùy theo việc họ đã làm chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách”  (Kh 20,12)

 

143. H. Muốn đánh giá một hành vi là tốt hay xấu, nặng hay nhẹ, ta dựa vào đâu ? (GLCG.299)

T. Ta dựa vào ba điểm này :

- Một là điều ta chọn là tốt hay xấu,

- Hai là ta nhắm mục đích tốt hay xấu,

- Ba là những hoàn cảnh lúc ấy làm cho sự việc thành nặng hoặc nhẹ hơn.

144. H. Mục đích ta nhắm ảnh hưởng đến việc ta làm như thế nào ? (GLCG.300)

T. Một hành động tốt được làm vì mục đích xấu, sẽ trở thành xấu, và ngược lại, mục đích dù tốt đến đâu cũng không làm cho hành động xấu trở thành tốt, vì “mục đích không biện minh cho phương tiện”.

145. H. Hành vi tốt xấu của con người còn bị điều gì chi phối nữa không ?  (GLCG.301)

T. Còn bị chi phối bởi bảy xúc cảm chính   là : mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét và ham muốn (Hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục).

146. H. Vậy ta phải làm gì đối với các xúc cảm của ta ?    (GLCG.302)

T. Ta cần tập làm chủ và qui hướng các xúc cảm ấy đến những điều tốt.

Bài 33:  LƯƠNG TÂM

147. H. Lương tâm là gì ? (GLCG.303)

T. Lương tâm là luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã đặt sẵn nơi đáy lòng mỗi người để soi dẫn họ làm lành lánh dữ.

148. H. Thế nào là lương tâm ngay thẳng ? (GLCG.305)

T. Là lương tâm gồm ba yếu tố này :

- Một  là  nhận  biết  các  nguyên  tắc luân lý.

- Hai là ứng dụng các nguyên tắc ấy vào hoàn cảnh cụ thể.

- Ba là phán quyết về các hành vi cụ thể đã làm, đang làm hay sắp làm.

149. H. Ta phải làm gì để đào tạo lương tâm mình ? (GLCG.306)

T. Ta phải xa lánh tội lỗi, phải cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, nghe theo các giáo huấn của Hội thánh, vâng lời những người có trách nhiệm dạy dỗ ta và năng bàn hỏi với những người đạo đức khôn ngoan.

150. H. Có những nguyên nhân nào khiến lương tâm phán đoán sai lạc không ? (GLCG.307)

T. Có ba nguyên nhân này :

- Một là do không chịu học hỏi khiến lương tâm thiếu hiểu biết,

- Hai là do quá quen phạm tội khiến lương tâm trở thành chai lì mù quáng,

- Ba là do những hoàn cảnh bên ngoài tác động.

Bài 34:    NHÂN ĐỨC

151. H. Nhân đức là gì ? (GLCG.308)

T. Nhân đức là thói quen tốt và bền vững giúp ta làm sự thiện cách dễ dàng hơn.

152. H. Có mấy thứ nhân đức?

T. Có hai thứ nhân đức:

- Một là nhân đức nhân bản;

- Hai là nhân đức đối thần. (377)

152. H. Có mấy nhân đức nhân bản ? (GLCG.310)

T. Có nhiều nhân đức nhân bản, trong đó bốn nhân đức chính là : khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ.

154. H. Đức khôn ngoan là gì ? (GLCG.311)

T. Đức khôn ngoan là nhân đức giúp ta nhận rõ điều tốt cần làm và những phương tiện chính đáng để làm điều tốt ấy.

155. H. Đức công bằng là gì ? (GLCG.312)

T. Đức công bằng là nhân đức giúp ta quyết tâm dành cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa và dành cho người khác những gì thuộc về họ.

156. H. Đức dũng cảm là gì ? (GLCG.313)

T. Đức dũng cảm là nhân đức giúp ta bền lòng bền chí theo đuổi điều thiện dù gặp nhiều gian nan thử thách.

146. H. Đức tiết độ là gì ? (GLCG.314)

T. Đức tiết độ là nhân đức giúp ta biết tự chủ trước sức quyến rũ của các thú vui và giữ được chừng mực khi hưởng dùng mọi sự ở đời này.

157. H. Có kinh nào giúp ta dễ nhớ những nhân đức phải tập luyện chăng ? (GLCG.315)

T. Có kinh “Cải tội bảy mối có bảy đức” :

- Thứ nhất : Khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

- Thứ hai   : Rộng rãi chớ hà tiện.

- Thứ ba    : Giữ mình sạch sẽ chớ mê dâm dục.

- Thứ bốn  : Hay nhịn chớ hờn giận.

- Thứ năm  :  Kiêng bớt chớ mê ăn uống.

- Thứ sáu   : Yêu người chớ ghen ghét.

- Thứ bảy   : Siêng năng việc Đức Chúa Trời chớ làm biếng.


Bài 35:       NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN  


158. H. Có mấy nhân đức đối thần ? (GLCG.316)

T. Có ba nhân đức đối thần là Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

149. H. Đức Tin là gì ? (GLCG.317)

T. Đức Tin là ơn Thiên Chúa ban, giúp ta trao phó trọn bản thân và đời mình cho Thiên Chúa, cùng đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa đã mặc khải mà Hội thánh truyền lại cho ta.

159. H. Đức Cậy là gì ? (GLCG.318)

T. Đức Cậy là ơn Thiên Chúa ban giúp ta dựa vào sức mạnh Chúa Thánh Thần mà vững lòng mong đợi hạnh phúc Nước Trời Chúa Giê-su đã hứa ban.

160. H. Đức Mến là gì ? (GLCG.319)

T. Đức Mến là ơn Thiên Chúa ban, giúp ta kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và lại vì Chúa mà yêu thương mọi người như chính bản thân.

 


Bài 36:  TỘI LỖI    

“Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi đã gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội”  (Rm 5,12)

161. H. Tội là gì ?(GLCG.321)

T. Tội là lời nói, việc làm hoặc ước muốn nghịch với Luật Chúa. Tội xúc phạm đến Thiên Chúa, gây tổn thương cho bản thân và cho tình liên đới với tha nhân.

162. H. Thế nào là tội trọng ? (GLCG.322) 

T. Tội trọng là cố tình phạm luật Thiên Chúa trong những điều quan trọng mà ta kịp suy biết.

163. H. Tội trọng làm hại ta thế nào ?  (GLCG.323)

T. Tội trọng phá hủy sự sống và phẩm giá cao qúy của con người ; đồng thời cắt đứt tình nghĩa với Thiên Chúa, và nếu không hối cải, thì sẽ phải xa cách Người đời đời.

164. H. Khi lỡ phạm tội trọng thì phải làm gì ? (GLCG.324)

T. Phải thực lòng thống hối và lo liệu đi xưng tội ngay, đồng thời dùng mọi phương thế để không tái phạm nữa.

165.   H. Thế nào là tội nhẹ ? (GLCG.325)

T. Tội nhẹ là khi lỗi phạm một điều luật nhẹ hoặc một điều luật nặng nhưng chưa kịp suy biết đầy đủ hoặc chưa hoàn toàn ưng theo.

166. H. Các tội ta phạm thường do những nết xấu nào ?  (327)

T. Thường do bảy nết xấu này, quen gọi là bảy mối tội đầu :

- Một là kiêu ngạo,

- Hai là hà tiện,

- Ba là dâm ô,

- Bốn là hờn giận,

- Năm là mê ăn uống,

- Sáu là ghen ghét,

- Bảy là lười biếng.

167. H. Khi nào ta có trách nhiệm đối với tội người   khác ? (328)

T. Ta có trách nhiệm đối với tội người khác phạm khi chỉ bày, khuyến khích, cộng tác cách trực tiếp hay gián tiếp, bao che  hoặc không ngăn cản khi có thể.

168. H. Chúa có thái độ nào đối với tội nhân ? (GLCG.329)

T. Chúa hằng tỏ lòng từ bi thương xót và sẵn sàng tha thứ cho những người thật lòng sám hối ăn năn.

169. H. Ta phải có thái độ nào đối với tội lỗi ?  (GLCG.330)

T. Ta phải dứt khoát với tội lỗi, xa tránh dịp tội, siêng năng xưng tội rước lễ và cố gắng đổi mới đời sống hàng ngày.

 

Bài 37: CON  NGƯỜI    HỘI     

 “Đức Chúa phán với ông Cain : “Aben, em ngươi đâu rồi” ... Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta”      (St 4,9)

 

170. H. Người Ki-tô hữu có bổn phận nào đối với xã hội ?(336)

T. Người Ki-tô hữu cần tích cực hoán cải nội tâm và cổ võ công bằng bác ái, đồng thời góp phần đổi mới các định chế và điều kiện sống trong xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng. 

171. H. Ích chung là gì ? (GLCG.339)

T. Ích chung là tất cả những điều kiện xã hội giúp cho các tập thể và từng người phát triển cách toàn diện và dễ dàng hơn. Ích chung có thể mang tầm mức một đoàn thể, một quốc gia hoặc toàn thế giới.

172. H. Ích chung gồm những yếu tố nào ? (GLCG.340)

T. Gồm ba yếu tố này :

- Một là tôn trọng phẩm giá con người,

- Hai là nhắm đến phúc lợi của mọi người và sự phát triển xã hội,

- Ba là góp phần xây dựng một trật tự công bằng bền vững.

173. H. Ta phải tham gia xây dựng ích chung thế nào ?  (341)

T. Ta phải tham gia bằng những cách này :

- Một là chu toàn các trách nhiệm cá nhân trong xã hội,

- Hai là tích cực góp phần vào sinh hoạt chung,

- Ba là sống đúng theo các đòi hỏi của lương tâm trong các bổn phận xã hội.

 

Bài 38: CÔNG BẰNG XÃ HỘI

174.   H. Công bằng xã hội là gì ? (GLCG.342)

T. Là những điều kiện thuận lợi giúp cho cá nhân cũng như tập thể đạt được những gì họ có quyền đạt tới. Những điều kiện này là : tôn trọng con người, xây dựng sự bình đẳng và tình liên đới nhân loại.

175

T. Tôn trọng con người là coi người khác như chính bản thân mình và tích cực phục vụ mọi người, kể cả những người suy nghĩ và hành động khác ta cũng như những kẻ thù ghét ta.

 

176. H. Ta phải có thái độ nào đối với người nghèo khổ ? (344)

T. Ta phải yêu thương và giúp đỡ những người cùng cực túng bấn, vì Chúa Giê-su đã dạy rằng :"mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40).

 

Bài 39: LUẬT LUÂN LÝ

 “Ta sẽ đặt luật của Ta vào bên trong chúng và Ta sẽ viết trên tim lòng chúng”  (Gr 31,33)

 

177. H. Thiên Chúa đã ban điều gì để hướng dẫn ta đi trong đường lối Người ? (GLCG.348)

T. Thiên Chúa đã ban luật luân lý, gồm luật tự nhiên, luật Cựu ước và luật Tân ước.

178. H. Luật tự nhiên là luật nào ? (GLCG.349)

T. Luật tự nhiên là luật được Thiên Chúa ghi khắc trong tâm hồn mọi người, ở mọi nơi và mọi thời để giúp lý trí phân biệt điều thiện, điều ác.

179. H. Luật Cựu ước là luật nào ?  (GLCG.350)

T. Luật Cựu ước là luật Thiên Chúa đã ban cho dân Is-ra-el qua Mô-sê tại núi Si-nai, gồm tóm trong Mười Điều răn.

180. H. Luật Tân ước là luật nào ? (GLCG.351)

T. Luật Tân ước là luật đã được Chúa Ki-tô công bố cách đặc biệt trong bài giảng trên núi. Luật Tân Ước là luật yêu thương, luật ân sủng và tự do.

181.   H. Luật Tân ước có giá trị như thế nào ? (GLCG.352)

T. Luật Tân ước kiện toàn luật tự nhiên và luật Cựu ước, đòi ta phải thay đổi tận cõi lòng để nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện (x. Mt 5,48).

 

Bài 40: ƠN CHÚA

182. H. Ơn Chúa là gì ? (GLCG.355)

T. Ơn Chúa là sự trợ giúp Thiên Chúa ban, để ta sống xứng đáng là con cái Người và được dự phần vào sự sống thâm sâu của Ba Ngôi.

183. H. Có mấy thứ ơn Chúa ? (GLCG.356)

T. Có hai thứ :

- Một là ơn thánh hóa có tính cách thường xuyên,

- Hai là ơn trợ giúp tùy hoàn cảnh.

 

MƯỜI ĐIỀU RĂN

Bài 41: 

ĐiỀu răn 1:  THỜ PHƯỢNG VÀ KÍNH MẾN THIÊN CHÚA

“Ai yêu cha hay mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy... Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”. (Mt 10,37.39)

 

184. H. Điều răn thứ nhất dạy ta những gì ? (GLCG.369)

T. Điều răn thứ nhất dạy thờ phượng một mình Thiên Chúa và kính mến Người trên hết mọi sự.

185. H. Có những tội nào phạm đến đức tin ? (GLCG.373)

T. Có những tội này :

- Một là chểnh mảng không chịu tìm hiểu các chân lý mặc khải.

- Hai là chủ ý nghi ngờ các chân lý ấy.

- Ba là cố ý chối bỏ các chân lý ấy mà trở thành rối đạo, bỏ đạo hoặc ly khai khỏi Hội thánh.

186. H. Có những tội nào phạm đến Đức Trông cậy? (375)

T. Có hai tội này :

- Một là tuyệt vọng vì thiếu tin tưởng vào tình thương của Chúa.

- Hai là chỉ dựa vào sức mình hoặc quá ỷ lại vào tình thương của Người.

187. H. Có những tội nào phạm đến Đức Mến ? (GLCG.377)

T. Có những tội này :

- Một là dửng dưng trước tình yêu Thiên Chúa,

- Hai là vô ơn, không đáp lại tình yêu Thiên Chúa,

- Ba là lười biếng trong các bổn phận   đối với Thiên Chúa,

- Bốn là thù ghét, chống lại và nguyền rủa Thiên Chúa.

188. H. Quyền tự do tôn giáo là gì ? (GLCG.380)

T. Là quyền của mỗi người được chọn và hành đạo theo niềm tin của mình ở chỗ riêng tư và nơi công cộng.

180. H. Có những tội nào nghịch lại Điều răn thứ nhất ? (381)

T. Có những tội này :

- Một là mê tín dị đoan,

- Hai là tôn thờ các loài thụ tạo,

- Ba là bói toán và ma thuật,

- Bốn là cố tình thử thách Thiên Chúa,

- Năm là phạm sự thánh,

- Sáu là buôn thần bán thánh.

- Bảy là chối bỏ Thiên Chúa,

- Tám là chủ trương không thể biết gì về Thiên Chúa.

Bài 42: ĐIỀU RĂN 2: TÔN KÍNH  DANH THÁNH THIÊN CHÚA

 

181. H. Điều răn thứ hai dạy ta sự gì ? (GLCG.383)

T. Điều răn thứ hai dạy ta bổn phận tôn kính Danh Thánh Thiên Chúa, vì Danh Người là Thánh

189. H. Có những tội nào nghịch điều răn thứ hai(GLCG.384)

T. Có những tội này :

- Một là sử dụng cách bất xứng Danh Thánh Thiên Chúa, Chúa Giê-su, Đức Mẹ và các Thánh,3

- Hai là không giữ những điều đã thề hứa nhân danh Thiên Chúa,

- Ba  là  nói  phạm  đến  Thiên  Chúa và Hội thánh,

- Bốn là thề gian.

Bài 43:  ĐIỀU RĂN 3: THÁNH  HOÁ  NGÀY  CHÚA  NHẬT         

Sau ngày Sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mac-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ... Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ :“Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đanh. Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói” (Mt 28,1.5-6)

 

190. H. Điều răn thứ ba dạy ta những gì ? (GLCG.388)

T. Điều răn thứ ba dạy ta thánh hóa ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.

191. H. Ngày Chúa nhật có những ý nghĩa nào ? (GLCG.389)

T. Có những ý nghĩa này :

- Một là nhắc nhớ việc sáng tạo mới, được thực hiện nhờ cuộc Phục sinh của Chúa Ki-tô vào ngày "thứ nhất trong tuần",

- Hai là hoàn tất ý nghĩa ngày lễ nghỉ Do thái và hướng tới sự nghỉ ngơi muôn đời nơi Thiên Chúa.

185. H. Ta phải dự thánh lễ Chúa nhật thế nào cho đúng luật Hội thánh ? (GLCG.391)

T. Phải tích cực tham dự thánh lễ từ đầu đến cuối, trừ khi được miễn chuẩn vì lý do chính đáng. Nếu ai cố tình bỏ lễ thì mắc tội trọng.

 

Bài 44:   Điều răn 4 :   THẢO  KÍNH  CHA  MẸ

“Hỡi kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa : Để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-3)

 

192. H. Điều răn thứ bốn dạy ta những gì ?  (GLCG.395)

T. Điều răn thứ bốn dạy ta sống đúng chức phận mình trong gia đình, Hội thánh và xã hội, mà trước hết là phải thảo kính cha mẹ cho tròn chữ hiếu.

193. H. Theo Tin Mừng, Hội thánh dạy ta những nghĩa vụ nào để kiện toàn đạo hiếu?  (GLCG.397)

T. Hội thánh dạy ta những nghĩa vụ này :

- Một là tôn kính, biết ơn và vâng lời cha mẹ trong những điều chính đáng.

- Hai là lo cho cha mẹ khi các ngài còn sống được đầy đủ về phần xác cũng như phần hồn.

- Ba là khi cha mẹ qua đời, phải lo việc an táng, hương khói, làm các việc lành, cầu nguyện và dâng lễ cho các ngài.

194. H. Cha mẹ có bổn phận nào đối với con cái ? (GLCG.398)

T. Cha mẹ có bổn phận nuôi dưỡng, thương yêu, dạy dỗ và làm gương sáng cho con cái noi theo về mặt nhân bản cũng như đức tin. Đồng thời, phải hướng dẫn con cái trong việc lựa chọn nghề nghiệp và bậc sống của mình.

195. H. Ta có bổn phận nào đối với những người trong gia tộc ? (399)

T. Ta có bổn phận tỏ lòng biết ơn, kính trọng, yêu mến, giúp đỡ và cầu nguyện cho mọi người trong gia tộc còn sống cũng như qua đời.

196. H. Anh chị em có bổn phận nào đối với nhau ? (GLCG.400)

T. Anh chị em trong gia đình phải biết kính trên, nhường dưới, anh chị em đùm bọc lẫn nhau.

Bài 45:    Điều răn 5 :  TÔN TRỌNG SỰ SỐNG        

“Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : chớ giết người. Ai giết người, thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ai giận anh em mình, thì phải bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì phải bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì phải bị lửa hoả ngục thiêu đốt”.  (Mt 5,21-22)

 

197. H. Điều răn thứ năm dạy ta những gì ? (GLCG.404)

T. Điều răn thứ năm dạy ta qúy trọng sự sống tự nhiên và siêu nhiên của mình cũng như của người khác, và do đó, cấm mọi hình thức xâm phạm đến sự sống con người.

190. H. Có những tội nào nghịch với điều răn thứ năm ? (406)

T. Có những tội này :

- Một là cố sát, nghĩa là cố ý giết người cách trực tiếp hoặc gián tiếp,

- Hai là triệt sản, phá thai và cộng tác vào tội này.

- Ba là làm chết êm dịu,

- Bốn là tự sát,

- Năm là phá hoại hoặc gây nguy hiểm cho sức khỏe của mình và của người khác,

198. H. Có khi nào xâm phạm tới sự sống người khác mà chẳng mắc tội không ? (GLCG.407)

T. Có, trong trường hợp tự vệ chính đáng, để bảo vệ mạng sống mình hay bảo vệ tổ quốc mà buộc lòng ta phải phạm đến người tấn công mình.

199. H. Ta phải làm gì để giúp cuộc sống chung tốt   đẹp ? (408)

T. Mỗi người cần phải bỏ tính ích kỷ, nóng giận, trả thù. Cần luyện tập sự dịu hiền và biết quan tâm đến người khác, đồng thời phải cố gắng hết sức để loại trừ chiến tranh và xây dựng hòa bình đích thực.

Bài 46: ĐiỀu răn 6: KHÔNG  LÀM  SỰ  DÂM Ô

“Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình. Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao ?” (1 Cr 6,18-19)

 

193 H. Đức khiết tịnh là gì ? (GLCG.409)

T. Là ơn Chúa ban giúp ta làm chủ bản năng tính dục để sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong bậc sống của mình.

194. H. Đức khiết tịnh đem lại cho ta điều gì ? (GLCG.410)

T. Đức khiết tịnh giúp cho sức sống và tình yêu của ta được nguyên tuyền để có thể hiến trọn bản thân cho Thiên Chúa và đồng loại theo bậc sống mình.

195. H. Có những tội nào phạm đến đức khiết tịnh ? (411)

T. Có những tội này :

- Một là nhìn ngắm hoặc tưởng nghĩ những điều dâm ô.

- Hai là nói những lời dâm ô, thô tục hoặc những lời ám hiểu ý tà, và phổ biến phim ảnh, sách báo khiêu dâm.

- Ba là tìm thú vui nhục dục bên ngoài cuộc sống hôn nhân, một mình hoặc với người khác.

- Bốn là làm dịp cho người khác phạm những tội trên đây.

196. H. Muốn đứng vững trong đức khiết tịnh, ta cần phải làm gì ? (415)

T. Ta cần làm những điều này :

- Một là nhớ mình yếu đuối để sáng suốt đề phòng,

- Hai là luôn sống tiết độ, hy sinh và ăn ở nết na,

- Ba là năng cầu nguyện và lãnh nhận các Bí tích,

- Bốn là tránh dịp tội cho mình và cho người khác.


Bài 47: Điều răn 7 - GIỮ  SỰ  CÔNG  BẰNG

“Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21)

197. H. Điều răn thứ bảy dạy ta những gì ? (GLCG.416)

T. Điều răn thứ bảy dạy ta sống công bằng theo hai nghĩa :

- Một là tôn trọng của cải người khác vì mỗi người được quyền có của cải riêng để bảo đảm nhân phẩm và nhu cầu cuộc sống gọi là quyền tư hữu.

- Hai là sử dụng của cải trong tinh thần liên đới và chia sẻ với mọi người, vì tài nguyên trong vũ trụ được Thiên Chúa ban chung cho mọi người.

198. H. Tội lấy của người khác cách bất công là những tội nào ? (417)

T. Là những tội này :

- Một là trộm cướp,

- Hai là gian lận,

- Ba là cho vay ăn lời quá đáng,

- Bốn là nhận của hối lộ hoặc thâm lạm của công.

- Năm là đầu cơ tích trữ hoặc bắt chẹt người tiêu dùng.              

199. H. Tội giữ của người khác cách bất công là những tội nào ? (418)

T. Là những tội này :

- Một là không trả nợ,

- Hai là không hoàn lại của đã mượn hay lượm được,

- Ba là không trả tiền công xứng đáng,

- Bốn là trốn thuế,

- Năm là oa trữ của gian.          

200. H. Điều răn thứ bảy còn cấm điều gì nữa không ? (GL.419)

T. Điều răn thứ bảy còn cấm :

- Vi phạm hợp đồng đã ký kết,

- Các trò chơi may rủi,

- Việc mua bán trao đổi thân  xác  con người.

201. H. Kẻ đã lỗi đức công bình thì phải làm thế nào ? (GL.420)

T. Phải hoàn trả lại những tài sản đã chiếm đoạt, và bồi thường cân xứng những thiệt hại đã gây ra.

202. H. Điều răn thứ bảy dạy ta điều gì về giá trị thiên nhiên ? (421)

T. Điều răn thứ bảy còn dạy ta tôn trọng môi sinh, sử dụng đúng đắn các thú vật, cỏ cây và vật chất vô tri giác vì ích lợi toàn diện của mọi người.

203. H. Người Ki-tô hữu cần góp phần thế nào vào các vấn đề xã hội ?  (GLCG.424)

T. Cần có sáng kiến góp phần theo ba cách :

- Một là cùng với các công dân khác dấn thân hành động để lo cho ích chung, làm cho cơ cấu xã hội ngày càng thấm nhuần tinh thần Tin Mừng.

- Hai là tận tâm lo cho những người nghèo khó và quẫn bách.

- Ba là không được tham lam và sử dụng của cải cách ích kỷ.

Bài 48: Điều răn 8:  TÔN  TRỌNG  SỰ  THẬT        

“Thưa anh em, trước hết, đừng có thề, dù là lấy trời, lấy đất, hay lấy cái gì khác mà thề. Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”, như thế, anh em sẽ không bị xét xử” (Gc 5,12)

204. H. Điều răn thứ tám dạy ta những gì ? (GLCG.425)

T. Điều răn thứ tám dạy ta sống thành thật, làm chứng cho sự thật và tôn trọng danh dự mọi người.

205. H. Vì sao ta cần sống thành thật ? (GLCG.426)

T. Ta cần sống thành thật vì ba lẽ này :

- Một là vì Thiên Chúa là Đấng Chân thật và là chính sự thật,

- Hai là vì sự thành thật làm tăng giá trị con người,

- Ba là vì sự thành thật rất cần cho đời sống chung.

206. H. Có những tội nào nghịch với điều răn thứ tám ? (427)

T. Có những tội này :

- Một là làm chứng gian dối và bội thề,

- Hai là làm mất thanh danh người khác như : nói  hành, nói xấu, vu khống, cáo gian.

- Ba là nói dối.

- Bốn là tán dương người khác khi họ làm điều xấu.

- Năm là không làm chứng cho sự thật.

207. H. Làm chứng gian dối và bội thề là gì ? (GLCG.428)

T. Làm chứng gian dối là nói sai sự thật về người hay việc nào đó cách công khai trước những người có thẩm quyền xét xử. Khi lời nói dối kèm theo lời thề thì gọi là bội thề hay thề gian.

208. H. Nói hành, nói xấu là gì ? (GLCG.429)

T. Nói hành, nói xấu là tỏ cho người khác biết những tật xấu hay lỗi lầm của tha nhân khi không có lý do chính đáng.

20915. H. Nói dối là gì ? (GLCG.430)

T. Nói dối là nói sai sự thật với ý định đánh lừa người ta. Tội nói dối nặng hay nhẹ tùy theo mức độ sự thật bị bóp méo, các hoàn cảnh, ý hướng của người nói và thiệt  hại gây ra.

210. H. Có được phép tiết lộ những điều phải giữ kín không ?  (431)

T. Không được, trừ khi ích chung quan trọng bắt buộc ta phải nói ra. Tuy nhiên cha giải tội phải tuyệt đối giữ kín bí mật của Bí tích Hòa giải.

211. H. Kẻ làm thiệt hại danh giá người ta có phải đền trả không ? (GLCG.432)

T. Phải đền trả danh thơm tiếng tốt cho người ta và nếu có gây thiệt hại vật chất thì cũng phải bồi thường nữa.

212. H. Có những nguyên tắc nào hướng dẫn việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội không ? (GLCG.433)

T. Có những nguyên tắc này :

- Một là các phương tiện truyền thông phải phục vụ lợi ích chung, nghĩa là tôn trọng sự thật, tự do, công bình và tình liên đới,

- Hai là những người cầm quyền có trách nhiệm bảo vệ và bênh vực sự tự do đích thực và chính đáng trong việc thông tin.

 

Bài 49: ĐiỀu răn 9_GIỮ TƯ  TƯỞNG  TRONG  SẠCH

“Anh em phải biết rõ điều này : không một kẻ gian dâm, ô uế hay tham lam nào - mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng - được thừa hưởng cơ nghiệp trong Nước của Đức Ki-tô và của Thiên Chúa” (Ep 5,5)

 

213. H. Điều răn thứ chín dạy ta sự gì ? (GLCG.434)

T. Điều răn thứ chín dạy ta phải sống trong sạch từ trong tư tưởng và chống lại những ham muốn xác thịt nghịch đức trong sạch.

214. H. Muốn giữ tâm hồn trong sạch ta phải làm gì ? (436)

T. Ta phải giữ những việc này :

- Một là chuyên chăm cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích và trông cậy vào ơn Chúa.

- Hai là sáng suốt làm chủ ngũ quan và trí tưởng tượng.

- Ba là sống đoan trang trong ăn mặc, nói năng, cư xử với người khác và xa lánh dịp tội.

- Bốn là năng đọc Lời Chúa và sách báo lành mạnh.

215. H. Khi có những hình ảnh, tư tưởng dâm ô trong tâm trí ta phải làm gì ? (GLCG.437)

T. Ta phải mau mắn loại bỏ và tránh dịp tội, đồng thời cầu xin Chúa và Đức Mẹ giúp ta thắng vượt cám dỗ.

 

Bài 50:  Điều răn 10:  KHÔNG  THAM  LAM  CỦA  NGƯỜI      

216. H. Điều răn thứ mười dạy ta những gì ? (GLCG.438)

T. Điều răn thứ mười dạy ta giữ lòng khỏi ham mê của cải quá đáng, để không tham lam muốn lấy của người khác và không ghen tỵ với người khác.

217. H. Muốn giữ lòng khỏi ham mê của cải quá đáng, ta cần làm những gì ? (GLCG.441)

T. Ta cần tập sống tinh thần nghèo khó để hằng ngày biết hy sinh từ bỏ, tập dành ưu tiên cho việc tìm kiếm Nước Trời, và nhất là luôn hướng lòng về Thiên Chúa, ao ước được ngắm nhìn Người.

 

 

PHẦN IV

ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN KITÔ GIÁO

 

Bài 51: VIỆC CẦU NGUYỆN     

218. H. Cầu nguyện là gì ?  (GLCG.442)

T. Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, để gặp gỡ và hiệp thông với Người trong tình yêu thương.

219. H. Tại sao ta phải cầu nguyện ?  (GLCG.443)

T. Vì cầu nguyện liên kết ta với Thiên Chúa là nguồn sự sống. Hơn nữa, Người vẫn hằng kêu mời và chờ đợi ta đến thưa chuyện với Người.

220. H. Ai là mẫu gương cầu nguyện ?  (GLCG.447)

T. Chính Chúa Giê-su là mẫu gương cầu nguyện hoàn hảo nhất.  

221.   H. Chúa Giê-su cầu nguyện lúc nào ? (GLCG.449)

T. Chúa Giê-su đã thường xuyên cầu nguyện, đặc biệt trước những giờ phút quyết định và những hoạt động quan trọng, nhất là trong những giây phút cuối cùng của Hiến tế Thập giá.

222. H. Ngoài Chúa Giê-su, có ai khác là mẫu gương đặc biệt cho ta trong việc cầu nguyện ? (GLCG.450)

T. Có Mẹ Ma-ri-a. Người đã cầu nguyện trong niềm tin, trong tâm tình quảng đại hiến thân và cộng tác đắc lực vào chương trình tình yêu của Thiên Chúa.

Bài 52: ĐỜI  SỐNG  CẦU  NGUYỆN

223. H. Để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện, Hội thánh khuyên ta làm gì ? (GLCG.461)

T. Hội thánh khuyên ta thực hiện nhịp độ cầu nguyện trong ngày như ban sáng, ban tối, trước các bữa ăn ; nhất là tham dự Thánh lễ.

224. H. Có mấy cách cầu nguyện ? (GLCG.462)

T. Có nhiều cách cầu nguyện nhưng người ta hay dùng những cách thức sau đây là khẩu nguyện, trí nguyện và tâm nguyện.

225. H. Khi cầu nguyện, ta thường gặp những khó khăn nào ? (468)

T. Khi cầu nguyện, ta thường gặp sự khô khan, chia trí và nguội lạnh. Để chữa trị, ta cần phải có đức tin, lòng khiêm tốn, tỉnh thức và ước muốn trở về cùng Chúa.

226. H. Chúa Giêsu có dạy ta kinh gì để cầu nguyện không?

T. Chúa Giêsu dạy ta cầu nguyện với kinh Lạy Cha: "Lạy Cha chúng con ở trên trời..."

 

 

Lời Kết: Các con thân mến, các con vừa học xong cuốn giáo lý đề cương dành cho thanh thiếu niên chưa học qua lớp Sống Đạo hay Vào đời.  Đây là những điều hết sức căn bản sống đức tin. Chúng con phải nổ lực hiểu biết về chúa, về đạo của mình và quyết tâm sống đạo tốt. Người xưa có nói “vô tri bất mộ” Nghĩa là không biết thì không yêu mến. Chúng con không thể yêu mến Chúa nếu chúng con không học biết về Người. Chúng con còn phải ôn lại một số kinh quen đọc hàng ngày để nguyện kinh mỗi ngày. Xin Chúa chúc lành cho chúng con và những nổ lực học tập tìm hiểu về Chúa về Hội Thánh, và quyết tâm sống theo Lời Chúa và Giáo Huấn của Giáo Hội.

Cha luôn cầu nguyện cho chúng con.

L.m. Gioan B. Trương Đình Hà

 

CÁC KINH THƯỜNG ĐỌC

 

1. KINH TRUYỀN TIN (đọc trong mùa thường niên)

- Đức Chúa Trời sai Thánh Thiên Thần truyền tin cho Rất Thánh Đức Bà Maria

+ Và Rất Thánh Đức Bà chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần

- Kính mừng Maria……            + Thánh Maria………

- Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời

+ Tôi xin vâng như lời Thánh Thiên Thần truyền

- Kính mừng Maria……            + Thánh Maria………

- Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người

+ Và ở cùng chúng con

- Kính mừng Maria……            + Thánh Maria………

- Lạy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời xin cầu cho chúng con

+ Đáng chịu lấy những sự Chúa Kitô đã hứa

Lời nguyện: Lạy Chúa, chúng con xin Chúa ban ơn xuống trong linh hồn chúng con là kẻ đã nhờ lời Thánh Thiên Thần truyền, mà biết thật Chúa Kitô là Con Chúa đã xuống thế làm người, thì xin vì công ơn Con Chúa chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá, cho chúng con ngày sau khi sống lại được lên nơi vinh hiển, cũng vì công nghiệp Chúa Kitô là Chúa chúng con. Amen.

2. KINH LẠY NỮ VƯƠNG THIÊN ĐÀNG

(Đọc trong mùa Phục Sinh)

Xướng: Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng - Alleluia

Đáp: Vì Đấng Mẹ đã đáng cưu mang trong lòng - Alleluia

Xướng: Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa - Alleluia

Đáp: Xin cầu cùng Chúa cho chúng con - Alleluia

Xướng: Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria hãy hỉ hoan khoái lạc - Alleluia

Đáp: Vì Chúa đã sống lại thật - Alleluia

Lạy Chúa là Đấng đã làm cho thiên hạ vui mừng quá bội, bởi Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Chúa cùng là Chúa chúng con đã sống lại. Xin vì Đức Nữ Đồng Trinh Maria là Thánh Mẫu Người nguyện cầu cho chúng con được hưởng phúc vui vẻ hằng sống đời đời. Vì công nghiệp Chúa Kitô là Chúa chúng con. Amen.

3. KINH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN

Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng, chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con. Chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.

- Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.

Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các Thánh Tông đồ, thì rày chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống an ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen.

4. KINH TIN

Lạy Chúa, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có ba Ngôi, mà Ngôi Thứ Hai đã xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết mà chuộc tội cho thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy cùng các điều Hội thánh dạy thì con tin vững vàng, vì Chúa là Đấng thông minh và chân thật vô cùng, đã phán truyền cho Hội thánh. Amen.

5. KINH CẬY

Lạy Chúa, con trông cậy vững vàng vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên thiên đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời, vì Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng, đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được. Amen.

6. KINH KÍNH MẾN

Lạy Chúa, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng; lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Amen.

7. KINH THỜ LẠY (Đọc ban sáng)       

Lạy Chúa, con là vật phàm hèn cùng là không trước mặt Chúa, con hết lòng thờ lạy và nhận thật Chúa là đầu cội rễ mọi sự, là cùng sau hết mọi loài, Chúa đã dựng nên con cùng thật là Chúa con nữa, thì con xin dâng linh hồn và xác, cùng mọi sự trong ngoài con ở trong tay Chúa. Amen.

8. KINH PHÙ HỘ (Đọc ban sáng)

Chúng con thờ lạy ngợi khen Chúa là Đấng có phép tắc vô cùng, đã thương để chúng con đến sớm mai nay, thì xin Chúa xuống ơn phù hộ chúng con trót ngày hôm nay khỏi sa phạm tội gì. Lại xin Chúa sửa sự lo, lời nói, việc làm chúng con hằng nên trọn lành theo ý Chúa. Vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, là Đấng hằng sống hằng trị cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần đời đời chẳng cùng. Amen.

9. KINH SÁNG SOI

Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm, xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.

10. KINH HÃY NHỚ

Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay, chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp, mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời. Nhân vì sự ấy, con lấy lòng trông cậy than van chạy đến sấp mình xuống dưới chân Đức Mẹ, là Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh, xin Đức Mẹ đoái đến con là kẻ tội lỗi. Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế, xin chớ bỏ lời con kêu xin, một dủ lòng thương và nhậm lời con cùng. Amen.

11. KINH XÉT MÌNH

Lạy Chúa là sự sáng linh hồn con, xin soi sáng cho con được biết mọi tội con đã phạm trong ngày hôm nay, hoặc lo, hoặc nói, hoặc làm, điều gì lỗi nghĩa cùng Chúa. Con lại xin Chúa vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, ban ơn cho con được ăn năn ghét tội cùng dốc lòng chừa thật. Amen.

12. KINH ĂN NĂN TỘI

Lạy Chúa, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì con sẽ tránh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.

13. KINH LẠY NỮ VƯƠNG

Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà; Chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khấn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mắt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ.

Ôi khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.

14. KINH TIN KÍNH

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.

Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh: chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Philatô, chịu đóng đanh trên cây Thánh-giá, chết và táng xác; xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

 Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Amen.

15. MƯỜI ĐIỀU RĂN

- Thứ nhất thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự

- Thứ hai chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ

- Thứ ba giữ ngày Chúa nhật

- Thứ bốn thảo kính cha mẹ.

- Thứ năm chớ giết người

- Thứ sáu chớ làm sự dâm dục

- Thứ bảy chớ lấy của người

- Thứ tám chớ làm chứng dối

- Thứ chín chớ muốn vợ chồng người

- Thứ mười chớ tham của người

Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen.

16. KINH SÁU ÐIỀU RĂN HỘI THÁNH

Hội thánh có sáu điều răn:
Thứ nhất: Dâng lễ ngày Chúa nhật cùng các ngày Lễ buộc.
Thứ hai: Chớ làm việc xác ngày Chúa nhật cùng các ngày Lễ buộc.
Thứ ba: Xưng tội trong một năm ít là một lần.
Thứ bốn: Chịu Mình Thánh Ðức Chúa Giêsu trong Mùa Phục Sinh.
Thứ năm: Giữ chay những ngày Hội thánh buộc.
Thứ sáu: Kiêng thịt ngày thứ sáu cùng các ngày khác Hội thánh dạy.

17. KINH CẢI TỘI BẢY MỐI

Cải tội bảy mối có bay đức

Thứ nhất: Khiêm nhường, chớ kiêu ngạo
Thứ hai: Rộng rãi, chớ hà tiện
Thứ ba: Giữ mình sạch sẽ, chớ mê dâm dục
Thứ bốn: Hay nhịn, Chớ hờn giận
Thứ năm: Kiêng bớt, chớ mê ăn uống
Thứ sáu: Yêu người, chớ ghen ghét
Thứ bảy: Siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ làm biếng

18. KINH TÁM MỐI PHÚC THẬT

Phúc thật Tám Mối:
Thứ nhất: Ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật, vì chưng Nước Ðức Chúa Trời là của mình vậy.
Thứ hai: Ai hiền lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất Ðức Chúa Trời làm của mình vậy.
Thứ ba: Ai khóc lóc ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được yên ủi vậy.
Thứ bốn: Ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy.
Thứ năm: Ai thương xót người ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thương xót vậy.
Thứ sáu: Ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thấy mặt Ðức Chúa Trời vậy.
Thứ bảy: Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con Ðức Chúa Trời vậy.
Thứ tám: Ai chịu khốn nạn vì Ðạo ngay ấy là phúc thật, vì chưng Nước Ðức Chúa Trời là của mình vậy.

19. KINH MƯỜI BỐN MỐI

Thương người có mười bốn mối
Thương xác bảy mối
Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn.
Thứ hai: Cho kẻ khát uống.
Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc.
Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.
Thứ năm: Cho khách đỗ nhà.
Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi.
Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết.
Thương linh hồn bảy mối
Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người.
Thứ hai: Mở dạy kẻ mê muội.
Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo. Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội.
Thứ năm: Tha kẻ dể ta.
Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta.
Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

PHÉP LẦN HẠT NGẮM TẮT

20. NĂM SỰ VUI

- Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường

- Thứ hai thì ngắm: Đức Bà đi viếng Bà Thánh I-sa-ve. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.

- Thứ ba thì ngắm: Đức Bà sinh Đức Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.

- Thứ bốn thì ngắm: Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong Đền thánh. Ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.

- Thứ năm thì ngắm: Đức Bà tìm được Đức Chúa Giêsu trong Đền thánh. Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn.

21. NĂM SỰ SÁNG

- Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa.

- Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu dự tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Ngài.

 - Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi sám hối. Ta hãy xin cho được hoán cải và đón nhận Tin Mừng.

- Thứ bốn thì ngắm: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho được lắng nghe và thực hành Lời Chúa

- Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được năng kết hợp cùng Chúa Giêsu Thánh Thể.

(Theo bản kinh trong cuốn "Bản toát yếu Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo của UBGLĐT trực thuộc HĐGMVN)

 

22. NĂM SỰ THƯƠNG

- Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.

- Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.

 - Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng.

- Thứ bốn thì ngắm: Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá. Ta hãy xin cho được vác Thánh giá theo chân Chúa.

- Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh giá. Ta hãy xin đóng đinh tính xác thịt vào Thánh giá Chúa.

23. NĂM SỰ MỪNG

- Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.

- Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời

- Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần.

- Thứ bốn thì ngắm: Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ

- Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên Nước Thiên đàng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

No comments:

Post a Comment